Vĩnh Phúc nỗ lực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 09/10/2017  - Lượt xem: 263

Đồng hành cùng các địa phương trong cả nước, những năm qua, Vĩnh Phúc từng bước chú trọng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thực hiện cơ chế, chính sách thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường đồng thời gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững. Nhờ thực hiện tốt những nhiệm vụ chiến lược này tạo động lực để kinh tế - xã hội của tỉnh có những đột phá quan trọng, phát triển nhanh và bền vững.

Kỳ 1: Nhận thức đúng đắn kết hợp với cơ chế, chính sách hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường

Từ nhận thức đúng đắn

Tháng 9/2017, mặc dù khá bận bịu với lịch truyền đạt nghị quyết tại các cơ quan, đơn vị song ông Bùi Huy Tùng, Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh vẫn dành cho phóng viên buổi trao đổi xung quanh câu chuyện về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bắt đầu câu chuyện, ông Tùng nhấn mạnh: Trước đổi mới năm 1986, cơ chế quản lí kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những đặc điểm là nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ Trung ương đến địa phương. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp; doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước, lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.

Đến năm 1986, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương đổi mới, qua từng giai đoạn phát triển, Đảng ta xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, trên cơ sở đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.

Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chủ trương của Đảng từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Vĩnh Phúc đã chủ động ban hành các cơ chế, chính sách đảm bảo đúng đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo ông Bùi Huy Tùng, tỉnh đặc biệt quan tâm đến việc tuyên truyền, định hướng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế được vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, của tỉnh. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và chính sách phát triển.

 

Vĩnh Phúc đã chủ động ban hành các cơ chế, chính sách đảm bảo đúng đường lối của Đảng, 
chính sách pháp luật của Nhà nước, phù hợp với tình hình thực tiễn 
từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 

Thống nhất trong tư tưởng, nhận thức, các ngành, các cấp cùng nhân dân các dân tộc trong tỉnh đồng sức đồng lòng phát huy bản lĩnh trí tuệ, nội lực cùng nhau xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội. Sau 30 năm đổi mới, kinh tế của tỉnh từng bước hoàn thiện theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những bước đột phá quan trọng. Năm 1986, kinh tế của Vĩnh Phúc (Vĩnh Phú cũ) chủ yếu là kinh tế nông nghiệp (chiếm 78,38%), công nghiệp không phát triển (chiếm 4,48%), dịch vụ phát triển không đáng kể (chiếm 17,14%). Thành phần kinh tế tập thể chiếm 66,96%, kinh tế cá thể 22,12% và kinh tế quốc doanh 10,92%. Với chủ trương tập trung phát triển kinh tế theo hướng thu hút phát triển công nghiệp và đầu tư nước ngoài, chuyển đổi, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước làm động lực cho phát triển, đến năm 2016, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có những chuyển dịch mạnh mẽ: tỷ trọng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 45%, tỷ trọng khu vực ngoài nhà nước chiếm 41,5%, khu vực nhà nước chiếm 13,5%; tỷ trọng ngành nông, lâm  nghiệp, thủy sản trong nền kinh tế giảm chỉ còn 10,25%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng cao chiếm 61,97%, khu vực dịch vụ giữ ổn định chiếm 27,78%.

Tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng cao góp phần nâng cao đời sống nhân dân và là cơ sở để tỉnh thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Năm 2016, giá trị GRDP bình quân đầu người của tỉnh đạt 72,3 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều giảm còn 3,89%, tỷ lệ hộ cận nghèo còn 4,0%, không có hộ tái nghèo.

Nhiều cơ chế, chính sách hiệu quả tạo động lực cho các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển

Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về thực hiện Nghị quyết số 11 của Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa XII nhấn mạnh: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh. Sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tế ở địa phương, những năm qua, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo thể chế bằng những cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp, đồng thời thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật.

Thực hiện phương châm “Các nhà đầu tư đầu tư ở Vĩnh Phúc là công dân của Vĩnh Phúc, thành công của doanh nghiệp chính là thành công của tỉnh”, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã có những hướng đi mang tính đột phá. Tỉnh ủy đã chỉ đạo thành lập 3 ban chỉ đạo để hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển: Ban Chỉ đạo Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc; Ban Chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng tỉnh Vĩnh Phúc; Ban Chỉ đạo công tác dồn thửa đổi ruộng và giải quyết đất dịch vụ.

Cùng với đó, HĐND tỉnh đã ban hành nhiều Nghị quyết tạo động lực cho các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển như Nghị quyết số 57 về một số biện pháp đặc thù thu hút đầu tư và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; Nghị quyết số 202 về ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020; các Nghị quyết về cơ chế hỗ trợ cho các dự án thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc chương trình khuyến công tỉnh...

UBND tỉnh đã cụ thể hóa các Nghị quyết của TƯ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh bằng các chương trình hành động, kế hoạch, đề án đảm bảo thực hiện 10 cam kết của tỉnh với nhà đầu tư nhằm xây dựng niềm tin của nhà đầu tư với chính quyền tỉnh, tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh tại tỉnh; hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng; phối hợp giữa các cơ sở dạy nghề, các trung tâm dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp để đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng, đáp ứng đúng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Lãnh đạo UBND tỉnh luôn sát sao trong chỉ đạo, điều hành các cơ quan giải quyết các thủ tục hành chính thuộc nhiệm vụ của các sở, ngành. Các thủ tục hành chính được xây dựng trong từng lĩnh vực, cơ bản được rút ngắn thời gian giải quyết từ 30% đến 50% theo quy định của Trung ương. Các thủ tục liên quan đến thành lập doanh nghiệp, đăng ký mở tài khoản ngân hàng, thông báo mẫu dấu...và các thủ tục trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp như thuế, bảo hiểm, hải quan... được rà soát và giảm còn dưới 60% thời gian giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; trình tự thực hiện thủ tục các dự án đầu tư công và dự án đầu tư trực tiếp giảm còn 65-70% theo quy định của Luật. Các thủ tục hành chính được công bố, niêm yết công khai trên các trang thông tin điện tử của các cơ quan và tại nơi tiếp nhận hồ sơ.

Cùng với việc đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, tỉnh xác định nhân tố quan trọng 
để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa độc lập, tự chủ, bền vững 
chính là phát triển khu vực kinh tế tư nhân, phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn

Cùng với việc đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn tỉnh đã xác định nhân tố quan trọng để hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa độc lập, tự chủ, bền vững chính là phát triển khu vực kinh tế tư nhân, phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn. Trên cơ sở đó, tỉnh đã ban hành 70 đầu văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện phát triển khu vực kinh tế này. Đặc biệt Nghị quyết số 04 về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 được Tỉnh ủy ban hành là động lực quan trọng để khối doanh nghiệp chiếm số lượng nhiều nhất tỉnh này phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nếu như năm 1997, toàn tỉnh có 91 doanh nghiệp với 57 tỷ đồng vốn đăng ký, ước đến hết tháng 9/2017, tổng số doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tăng lên 8.325 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt trên 69 nghìn tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 60.000 lao động, chiếm khoảng 60% lao động được giải quyết việc làm trong toàn tỉnh.

Khu vực kinh tế tập thể được tỉnh quan tâm, các hợp tác xã từng bước được đổi mới và phát triển, số hợp tác xã thành lập mới hàng năm đều tăng, đa dạng về loại hình. Đến nay, toàn tỉnh có trên 700 hợp tác xã, một số mô hình hợp tác xã kiểu mới được hình thành; các hợp tác xã đã và đang góp phần quan trọng trong việc khôi phục, phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động khu vực nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của tỉnh.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tiếp tục hoàn thiện thể chế cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường, theo ông Lương Quốc TuấnGiám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tư, vấn và Dịch vụ Hỗ trợ Phát triển, Sở kế hoạch và Đầu tư, Vĩnh Phúc đã sắp xếp, đổi mới 41 doanh nghiệp và 7 đơn vị trực thuộc. Đến nay, số doanh nghiệp có vốn nhà nước trên địa bàn là 14 doanh nghiệp, trong đó có 6 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và 8 doanh nghiệp có vốn tham gia của nhà nước. Công tác sắp xếp, đổi mới và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư của Nhà nước được tỉnh thực hiện công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường. Tỉnh đã ban hành Quyết định việc phê duyệt phương án cổ phần hóa Trung tâm Tư vấn và giám sát xây dựng công trình giao thông Vĩnh Phúc; cổ phần hóa và phê duyệt giá trị thực tế của Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới Vĩnh Phúc; chuyển đổi Trại nghiên cứu thực nghiệm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc. Cùng với đó, tỉnh thí điểm chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần đối với Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu tỉnh Vĩnh Phúc thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội và Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ. Với những kết quả đạt được, Vĩnh Phúc được Chính phủ tuyên dương là một trong hai tỉnh có kết quả tốt việc cổ phần hóa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước sau khi tái cơ cấu đã từng bước hoàn thiện tổ chức quản lý, quản trị doanh nghiệp, giải phóng và phát huy tối đa các nguồn lực để phát triển.

Việc đồng bộ ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ các thành phần kinh tế và phát triển doanh nghiệp cho thấy nỗ lực và quyết tâm của tỉnh trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo bệ phóng cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp thuộc các loại hình tự tin mở rộng đầu tư, kinh doanh phát triển đúng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. 

Kỳ 2: Đẩy mạnh các giải pháp hoàn thiện thể chế, phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường gắn kết tăng trưởng kinh tế bảo đảm phát triển bền vững

Để phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, những năm qua các cấp, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực khắc phục những tồn tại, khó khăn, từng bước cải thiện điều kiện, năng lực hoạt động, đáp ứng ngày một tốt hơn nhiệm vụ chung của tỉnh về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đem lại niềm tin cho người dân, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.

Đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường

Những năm qua, tỉnh ta đã quan tâm thực hiện các giải pháp phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, trong đó chú trọng thực hiện giải pháp nhất quán cơ chế giá thị trường, bảo đảm tính đúng, tính đủ, công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá hàng hoá, dịch vụ công thiết yếu; xây dựng các văn bản hướng dẫn áp dụng về phí, lệ phí theo hướng chuyển sang áp dụng giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường. Cùng với đó, tỉnh tiếp tục vận hành cơ chế cấp phát sang cơ chế đặt hàng, từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng.

Trao đổi với ông Nguyễn Văn Long, Trưởng phòng Quản lý giá và công sản, Sở Tài chính về câu chuyện gần đây, tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, người công nhân không còn mặn mà lựa chọn đi xe buýt mà chuyển sang sử dụng dịch vụ vận tải xe khách, ông Long cho rằng: Đó chính là biểu hiện tất yếu quy luật vận động các yếu tố kinh tế thị trường, có cầu ắt có cung. Thay bằng việc phải chen chúc trên những chiếc xe buýt quá tải, bị bỏ tuyến, bị chậm giờ xuất phát… nay những chiếc xe khách đủ chủng loại đều đặn đến từng ngõ xóm, thôn làng, đảm bảo đúng giờ, đúng tuyến, ngày ngày miệt mài đưa đón với chất lượng phục vụ tốt hơn là sự lựa chọn đương nhiên của người dân.

Từ năm 2007 đến nay, tỉnh đã mở 8 tuyến xe buýt đi đến tất cả các huyện thành thị và các khu công nghiệp. Để hỗ trợ cho các công ty xe buýt hoạt động, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết 12/2007 về đầu tư hạ tầng mạng lưới tuyến xe buýt và cơ chế hỗ trợ vận chuyển khách công cộng bằng xe buýt, thực hiện chính sách trợ giá chênh lệch, bù lỗ cho hoạt động các tuyến xe buýt nội tỉnh. Mỗi năm ngân sách tỉnh hỗ trợ khoản kinh phí không nhỏ cho mạng lưới các tuyến xe buýt này, năm 2015 là trên 36 tỷ đồng, năm 2016 trên 35 tỷ đồng. Hỗ trợ nhiều là vậy song do chi phí vật tư, lãi vay ngân hàng, nhiên liệu và tiền lương đều tăng; kinh phí hỗ trợ hoạt động xe buýt trong tạm ứng thanh toán còn chậm khiến các doanh nghiệp kinh doanh xe buýt gặp khó khăn về tài chính, chậm lương người lao động, thiếu tiền bảo dưỡng sửa chữa, từ đó dẫn đến phương tiện, chất lượng phục vụ hành khách đều xuống cấp. Do vậy, theo ông Nguyễn Văn Long: "Cần thiết phải chuyển từ cơ chế cấp phát sang vận hành cơ chế đặt hàng, từng bước xóa bỏ hỗ trợ, bù lỗ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ. Đây là vấn đề các ngành, các cấp của tỉnh đang tiếp tục quan tâm thực hiện và liên sở Tài chính - Giao thông vận tải đang trình UBND tỉnh xây dựng dự toán để tới đây chuyển sang hình thức đấu thầu công khai việc vận hành các tuyến xe buýt, giải pháp này hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế thị trường."

Cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng công khai, minh bạch, công bằng; áp dụng việc xác định giá trị quyền sử dụng đất thông qua các tổ chức thẩm định giá độc lập chuyên nghiệp, từ đó thúc đẩy thị trường đất đai phát triển lành mạnh, đảm bảo sự phát triển đồng bộ của yếu tố thị trường trong thể chế kinh tế thị trường chính là việc UBND thành phố Vĩnh Yên đã thực hiện thành công trong những năm qua.

Ông Nguyễn Đông Giang, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Vĩnh Yên cho biết: “Trước đây, việc đấu giá quyền sử dụng đất của thành phố còn tồn tại nhiều hạn chế: Giá đất khởi điểm khi đem đấu giá quyền sử dụng thường thấp hơn so với giá thị trường; sử dụng hình thức đấu giá bằng miệng. Do vậy, đã xảy ra tình trạng cò đất thông đồng, dàn xếp dìm giá, thao túng thị trường. Cả người dân và nhà nước đều bị thiệt, người dân muốn mua được ô đất ưng ý phải trả thêm phí ngoài cho cò đất, nhà nước thì không bán được đất đúng giá theo giá thị trường, không thu thêm được phần chênh lệch giá, gây thất thoát lãng phí”.

Theo ông Giang, khắc phục tình trạng trên, từ năm 2014, khi UBND thành phố chuyển nhiệm vụ tổ chức đấu giá đất về phòng Tài nguyên và Môi trường, lãnh đạo phòng đã tham mưu UBND thành phố khi tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, giá khởi điểm đấu giá phải thực hiện theo đúng bằng giá khởi điểm của thị trường. Giá khởi điểm này đã được đơn vị tư vấn độc lập xác định, được sự thông qua của Sở Tài nguyên và Môi trường, Hội đồng thẩm định giá đất của tỉnh và được UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt. Cùng với đó, để đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng trong việc đấu giá quyền sử dụng đất, phòng đã tham mưu UBND thành phố ký hợp đồng thuê đơn vị bán đấu giá có đầy đủ năng lực đứng ra tổ chức bán đấu giá; tham mưu thay đổi hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển từ đấu giá bằng miệng hay đấu giá bằng bỏ phiếu kín nhiều vòng sang đấu giá bằng bỏ phiếu kín một vòng, người có nhu cầu mua đất có thể nộp hồ sơ tham gia trực tiếp tại đơn vị tổ chức đấu giá hoặc nộp hồ sơ qua đường bưu điện. Hình thức này vừa đảm bảo các quy định của pháp luật vừa hạn chế được tối đa hiện tượng thông đồng dìm giá trong quá trình tổ chức đấu giá.

Với cách làm này, số tiền chênh lệch đấu giá đất so với giá khởi điểm của thành phố được tăng lên đáng kể: Năm 2016, thành phố đã thu được trên 141 tỷ đồng từ đấu giá quyền sử dụng đất, tăng trên 11 tỷ đồng, đạt 109% so với kế hoạch đề ra, đặc biệt số tiền chênh lệch so với giá khởi điểm thu được trên 12 tỷ đồng. “Qua quan sát  tại các lần đấu giá, dù mua được ô đất bằng hoặc cao hơn so với giá khởi điểm thì người dân vẫn rất hài lòng với mảnh đất mình đã mua bởi họ hoàn toàn thấy yên tâm vì họ có một điểm tựa là được công khai về giá khởi điểm, được minh bạch, công bằng trong đấu giá theo đúng quy luật của thị trường”, ông Giang khẳng định. Vĩnh Yên là đơn vị đầu tiên triển khai cách làm hiệu quả này và hiện đang được các địa phương khác trên địa bàn tỉnh cùng áp dụng.


Những năm qua, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh chủ động mở rộng tín dụng
tập trung vốn hỗ trợ cho các lĩnh vực, dự án lớn, quan trọng, 
góp phần vận hành thông suốt các thị trường

Nhằm phát triển đồng bộ, vận hành thông suốt các thị trường theo định hướng phát triển của tỉnh, những năm qua ngành ngân hàng chủ động đảm bảo an toàn dịch vụ tài chính, ngân hàng, kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng, hàng năm tăng trưởng nguồn vốn huy động bình quân đạt 20-22% sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn của thị trường. Bên cạnh đó, các ngân hàng đồng hành cùng tỉnh thực hiện nhiệm vụ chính trị, tập trung vốn hỗ trợ cho các lĩnh vực, dự án lớn, quan trọng có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Ông Nguyễn Văn Hạnh, Phó Trưởng phòng Tổ chức hành chính, Ngân hàng Vietin Bank chi nhánh Vĩnh Phúc chia sẻ: "Những năm qua, Ngân hàng Vietin Bank chi nhánh Vĩnh Phúc đã chủ động và bám sát chủ trương phát triển kinh tế của tỉnh, định hướng và mục tiêu chiến lược của ngành chú trọng mở rộng địa bàn, tăng cường phát triển sản phẩm, dịch vụ tới mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, đẩy mạnh tăng trưởng thị phần, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ đáp ứng xu hướng của thị trường. Tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh đến hết tháng 8/2017 đạt gần 9 nghìn tỷ đồng, chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của chi nhánh đạt trên 4.500 tỷ đồng. Hiện chi nhánh đang thẩm định và xem xét đầu tư Dự án phát triển du lịch sinh thái cao cấp Tam Đảo II – Bến Tắm – Thác 75. Tổng vốn đầu tư của dự án dự kiến trên 10 nghìn tỷ đồng, trong đó, ngân hàng dự kiến cho vay từ 70-80%. Liên doanh nhà đầu tư hiện đang là khách hàng lớn, truyền thống của Vietibank. “Đây là một dự án lớn dự kiến khi đi vào hoạt động sẽ tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là du lịch của tỉnh mà Vietinbank rất vinh dự được đóng góp một phần công sức”, ông Hạnh nhấn mạnh.

Gắn kết tăng trưởng kinh tế bảo đảm phát triển bền vững

Sự đúng đắn trong việc kiên định phát triển kinh tế theo thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đưa kinh tế của tỉnh tăng trưởng nhanh trong những năm qua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn luôn ở mức cao, có năm tăng trưởng kinh tế đạt trên 20%. Bình quân giai đoạn 1997-2016, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt 15,37%/năm, quy mô giá trị tăng thêm theo giá hiện hành tăng 39,5 lần từ 1,96 nghìn tỷ năm 1997 lên 77,2 nghìn tỷ đồng năm 2016. Thu ngân sách tỉnh từ 114 tỷ đồng năm 1997 đến năm 2016 đạt trên 32 nghìn tỷ, tăng trên 250 lần.

Kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ là cơ sở và động lực để tỉnh thúc đẩy phát triển xã hội bền vững. Trong đó, tập trung nguồn lực thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về an sinh xã hội; đẩy mạnh hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, thống nhất; huy động, khuyến khích sự tự nguyện tham gia của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng xã hội thực hiện chính sách an sinh xã hội; tạo cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội tham gia bình đẳng và thụ hưởng công bằng thành quả từ quá trình phát triển.

Trao đổi với chúng tôi về ai trò quan trọng các chính sách an sinh xã hội trong việc gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, ông Lê Xuân Thều, Phó Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phân tích: "Chính sách an sinh xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng khi Vĩnh Phúc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Cấp ủy, chính quyền các cấp đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm đó. Ðiểm nổi bật là tỉnh đã sớm khai thác thế mạnh nổi trội về đất đai, lợi thế về giao thông đường bộ, đường sắt và cảng hàng không và nằm cận kề Thủ đô Hà Nội để đầu tư phát triển, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là một xu thế khách quan, là yếu tố quyết định thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng hiện đại. Phát triển kinh tế thị trường, trong đó có thị trường lao động mở ra khả năng to lớn về cơ hội việc làm cho mọi người lao động có nhu cầu, song đối với khu vực nông thôn, một mặt, khả năng cạnh tranh của lao động còn rất yếu do phần lớn chưa qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề, nên khó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, họ chỉ có thể tham gia vào thị trường lao động giản đơn với thu nhập thấp; mặt khác, do tác động mặt trái của cơ chế thị trường cũng phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và phần lớn tập trung vào khu vực nông thôn. Vì vậy, nếu không đặt đúng vị trí chính sách an sinh xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, không gắn chặt giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện chính sách an sinh xã hội sẽ là rào cản rất lớn trên con đường phát triển".

Nhận thức được vai trò quan trọng đó, những năm qua, các cấp, các ngành dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác an sinh xã hội, hoạch định và triển khai nhiều chính sách quan trọng, huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng. Các chính sách và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội được triển khai đồng bộ trên cả 3 mặt: Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở; hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về vay vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo đảm việc làm; phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương như: Hệ thống đường giao thông, hệ thống điện, cơ sở trường học. Đặc biệt, các vùng miền núi, vùng khó khăn của tỉnh được ưu tiên đầu tư mạnh nhằm phục vụ người dân tốt hơn. Bình quân mỗi năm ngân sách tỉnh hỗ trợ trên 300 tỷ đồng thực hiện chính sách cho các đối tượng.

Hoạt động hỗ trợ các đối tượng chính sách, gia đình khó khăn được các cấp, các ngành chủ động triển khai. Công tác thăm hỏi, tặng quà được tổ chức chu đáo, trang trọng, đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng. Công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực được các tỉnh quan tâm đặc biệt. Số lượng và chất lượng lao động qua đào tạo được nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 9,8% năm 2000 lên 65,8% năm 2016. Cùng với đó, hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn thiện, thực hiện đầy đủ, kịp thời. Mỗi năm, tỉnh thực hiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho hơn 40 nghìn người có công. Đến nay, 100% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn; 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng. Tỉnh đã xây dựng gần 2 nghìn nhà tình nghĩa với kinh phí gần 55 tỷ đồng; sửa chữa, nâng cấp gần 3 nghìn nhà tình nghĩa với kinh phí trên 26,5 tỷ đồng cho các gia đình chính sách và huy động trên 36 tỷ đồng xây dựng Quỹ đền ơn đáp nghĩa.


Các cấp, các ngành dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác an sinh xã hội

Chính sách an sinh xã hội của tỉnh đã có tác động không nhỏ tới nhận thức của cộng đồng, các phong trào: “Tương thân, tương ái”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Quỹ vì người nghèo” được tổ chức thường xuyên và thu hút sự hưởng ứng của nhiều lực lượng xã hội. Tính riêng năm 2016, Quỹ “Vì người nghèo” 3 cấp đã vận động được  gần 12 tỷ đồng, hỗ trợ xây dựng 134 nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo. Việc đóng góp xây dựng Quỹ “Vì người nghèo” hỗ trợ nhà ở đã khẳng định vai trò của cả hệ thống chính trị trong việc vận động, tập hợp nhân dân, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tích cực tham gia đóng góp xây dựng quỹ với tinh thần tương thân, tương ái góp phần chăm lo tốt chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

Đánh giá về kết quả thực hiện công tác bảo đảm an sinh xã hội của tỉnh trong 20 năm qua, ông Lê Xuân Thều, khẳng định: Từ khi tách tỉnh đến nay, tổng kinh phí thực hiện chính sách người có công (thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà ở cho người có công, vận động xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”) là trên 553 tỷ đồng; tín dụng cho hộ nghèo, cận nghèo vay vốn phát triển sản xuất là gần 2,3 nghìn tỷ đồng; kinh phí hỗ trợ người nghèo, cận nghèo mua BHYT và hỗ trợ khám, chữa bệnh miễn phí gần 614 tỷ đồng; hỗ trợ người nghèo về nhà ở hơn 142 tỷ đồng… Những con số “biết nói” đó là minh chứng rõ nét nhất cho công tác an sinh xã hội mà các cấp các ngành của tỉnh đã nỗ lực thực hiện giúp các đối tượng được thụ hưởng cải thiện đáng kể điều kiện sống, góp phần ổn định xã hội hướng tới sự phát triển bền vững.

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài. Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này, Tỉnh ủy đã ban hành chương trình hành động. Theo đó, từ nay đến năm 2020, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; tinh giản bộ máy, biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị. Huy động phân bổ có hiệu quả các nguồn lực để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực và nguồn lực cho tăng trưởng. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; có chính sách đột phá tháo gỡ những vướng mắc, tạo thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trên cơ sở đẩy mạnh đồng bộ cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Phát triển ứng dụng khoa học – công nghệ, giáo dục và đào tạo; tranh thủ cơ hội và thành tự của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tác giả: Đức Hiền - Nguồn: vinhphuc.gov.vn/ - Số lần được xem: 263

Video

Đại hội MTTQ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2019-2024 Cầu nối ý Đảng lòng dân Đại hội Đại biểu Mặt trận tổ quốc huyện Vĩnh Tường nhiệm kỳ 2019 – 2024 Mặt trận Tổ quốc cấp xã nhìn lại một nhiệm kỳ Công tác Mặt trận một năm nhìn lại
Xem tất cả »


Liên kết website